Đền Từ Hạ - Giá trị kiến trúc nghệ thuật đan xen giữa thời Lê và thời Nguyễn

Đền Từ Hạ, thuộc thôn Thanh Quang, xã Hà Đông ( trước đây là thôn Phúc Giới, xã Thanh Quang) là di tích lịch sử – văn hóa gắn liền với tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng và những sự kiện lịch sử của địa phương. Không chỉ có giá trị về lịch sử, di tích còn lưu giữ nhiều dấu ấn kiến trúc, nghệ thuật chạm khắc và hệ thống đồ thờ cổ, phản ánh sự tiếp nối giữa nghệ thuật kiến trúc thời Lê và thời Nguyễn.

 

Đền Từ Hạ còn có tên gọi là đền Thánh Cả, được xây dựng để thờ ba vị Thành hoàng là Đặng Chân, Đặng Trí và Trịnh Thị Khang – những nhân vật theo thần tích có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỷ X. Trải qua nhiều thế hệ, ngôi đền trở thành địa điểm sinh hoạt tín ngưỡng, văn hóa của nhân dân địa phương.

Di tích nằm giữa cánh đồng thôn Phúc Giới, nay là thôn Thanh Quang, xã Hà Đông, thành phố Hải Phòng, mặt tiền hướng tây nam, trông ra sông Bửa. Không gian xung quanh có sự kết hợp giữa cảnh quan sông nước, đồng ruộng và những cây lâu niên như nhãn, sung, si, mít, tạo nên vẻ cổ kính, trầm mặc cho công trình.

Theo tài liệu khảo tả di tích, căn cứ vào bia ký, cuốn thư có niên hiệu Khải Định thứ 7 (1922), các mảng chạm khắc và nghê đá có niên đại thời Lê, đền Từ Hạ được xác định khởi dựng vào thời Hậu Lê, khoảng cuối thế kỷ XVII – XVIII. Công trình được tu sửa vào năm Tự Đức Bính Thìn (1856), trùng tu năm Thành Thái Đinh Dậu (1897) và xây dựng thềm đá vào mùa xuân năm Mậu Ngọ, niên hiệu Khải Định (1918).

Điểm nhấn của công trình là cách xử lý các bộ vì, hệ thống cấu kiện gỗ và nghệ thuật trang trí

Qua nhiều lần tu bổ, kiến trúc thời Nguyễn trở thành dấu ấn chủ đạo của di tích, song vẫn bảo lưu được một số thành phần kiến trúc và mảng chạm khắc mang phong cách nghệ thuật thời Lê. Sự đan xen này tạo nên giá trị riêng của Đền Từ Hạ, thể hiện qua kết cấu công trình, cách xử lý các bộ vì, hệ thống cấu kiện gỗ và nghệ thuật trang trí.

Điểm nổi bật trong kiến trúc Đền Từ Hạ là bố cục tổng thể theo kiểu chữ Đinh, gồm tòa tiền tế 5 gian và tòa hậu cung 3 gian, tạo thành một chỉnh thể tương đối đồng bộ, đáp ứng chức năng hành lễ và thờ tự.

Đền thờ ba vị Thành hoàng là Đặng Chân, Đặng Trí và Trịnh Thị Khang – những nhân vật theo thần tích có công giúp vua Đinh Tiên Hoàng dẹp loạn 12 sứ quân vào thế kỷ X

Tòa tiền tế có chiều dài 14m, rộng 5,7m, cao 5m; kiến trúc theo kiểu bít đốc, mái lợp ngói mũi truyền thống, hiên kê trên đá tảng, nền lát gạch chỉ. Hệ thống cửa bức bàn cùng các cấu kiện gỗ tạo nên diện mạo đặc trưng của kiến trúc đền truyền thống.

Đáng chú ý, các bộ vì của tòa tiền tế được kết cấu theo kiểu giá chiêng truyền thống, sử dụng đấu vuông; các xà nách trang trí hoa lá cách điệu. Những cấu kiện gỗ không chỉ đảm nhiệm chức năng chịu lực mà còn được khai thác như những thành phần trang trí, tạo nên sự hài hòa giữa kết cấu và nghệ thuật.

Các bẩy phụ được chạm hoa văn lá lật, với đường nét mềm mại, hình lá nối liền trên thớ gỗ. Đặc biệt, các bức cốn tại gian trung tâm chạm hình rồng quần theo phong cách rồng thời Lê, là những chi tiết có giá trị nghệ thuật đáng chú ý. Các con thuận cũng được trang trí hoa lá, góp phần làm phong phú diện mạo của hệ thống cấu kiện kiến trúc.

Sự kết hợp giữa hình thức kiến trúc truyền thống, kết cấu gỗ và các họa tiết trang trí cho thấy sự chăm chút của những người thợ xưa trong quá trình tạo dựng công trình. Những chi tiết còn lưu giữ đến nay là cơ sở quan trọng để nhận diện các lớp dấu ấn nghệ thuật của di tích qua những giai đoạn lịch sử.

Nếu tòa tiền tế tạo ấn tượng bởi bố cục cân đối và hệ thống cấu kiện gỗ được trang trí công phu, thì tòa hậu cung là bộ phận nổi bật hơn cả về tính độc đáo trong tổ chức không gian và nghệ thuật chạm khắc.

Các mô típ rồng, phượng, hoa lá được thể hiện trên nhiều thành phần kiến trúc và đồ thờ, vừa tạo sự thống nhất trong trang trí, vừa góp phần làm tăng vẻ trang nghiêm của không gian thờ tự

Tòa hậu cung gồm 3 gian, dài 8,1m, rộng 5,3m, được nối với tòa tiền tế bằng hệ thống máng xối. Đặc biệt, hai vì kèo đầu của gian cổ giải được kết cấu theo kiểu vành mai, với các bức cốn ghép sát nhau, trang trí đề tài tứ linh. Cách tổ chức các thành phần kiến trúc và trang trí này tạo nên nét riêng cho không gian thờ tự, đồng thời thể hiện sự sáng tạo trong xử lý kết cấu của nghệ nhân.

Qua hai gian cổ giải là gian cung cấm – khu vực thờ tự quan trọng nhất của ngôi đền. Gian cung cấm được kiến tạo theo kiểu chồng diêm cổ các, mái tầng trên quay ngang; trên bờ nóc có đôi lạc long, các góc đao cong mềm mại hình lá. Hệ thống vì kèo được kết cấu theo kiểu kẻ chuyền chồng chóp, tạo nên hình thức kiến trúc nhiều lớp, khác biệt so với không gian tiền tế.

Giá trị nghệ thuật của khu vực này còn thể hiện rõ ở các mảng chạm trang trí. Nổi bật là hai bức chạm rồng chầu mang phong cách thời Lê, được sơn son thiếp vàng. Phía trước gian cung cấm là bức cửa võng sơn son thiếp vàng, trang trí đề tài lưỡng long chầu nguyệt, phượng chầu, hoa hồng, phúc thọ cùng các họa tiết hoa lá cách điệu.

Các mô típ rồng, phượng, hoa lá được thể hiện trên nhiều thành phần kiến trúc và đồ thờ, vừa tạo sự thống nhất trong trang trí, vừa góp phần làm tăng vẻ trang nghiêm của không gian thờ tự. Đặc biệt, những mảng chạm khắc còn mang dấu ấn thời Lê là minh chứng cho sự kế thừa và lưu giữ giá trị nghệ thuật qua các đợt trùng tu thời Nguyễn.

Từ tòa tiền tế đến hậu cung, công trình cho thấy sự liên kết tương đối chặt chẽ giữa bố cục mặt bằng, kết cấu chịu lực và nghệ thuật trang trí. Trong đó, hậu cung với gian cung cấm có kiến trúc đặc biệt, hệ thống vì kèo và các mảng chạm khắc tinh xảo là điểm nhấn quan trọng, góp phần làm nên giá trị kiến trúc nghệ thuật của Đền Từ Hạ.

Hệ thống đồ thờ, cổ vật góp phần làm nên giá trị di tích

Bên cạnh kiến trúc, Đền Từ Hạ còn lưu giữ nhiều hiện vật có giá trị thuộc các chất liệu gỗ, đá, đồng và giấy. Đây là nguồn tư liệu quan trọng giúp tìm hiểu lịch sử hình thành, quá trình tu bổ và đời sống tín ngưỡng của cộng đồng địa phương.

Trong không gian thờ tự, các hương án, ngai thờ, bát hương, đèn nến, mâm bồng, mâm quy và bộ tam sơn được bố trí theo trật tự, kết hợp với các hàng bát biểu tạo nên vẻ trang nghiêm, cân đối. Nhiều đồ thờ được sơn son thiếp vàng, trang trí rồng, phượng, hạc ngậm hoa sen, hoa lá cách điệu và đề tài lưỡng long chầu nguyệt.

Đáng chú ý là hệ thống hương án thời Nguyễn với các họa tiết chạm khắc, trang trí cầu kỳ; những ngai thờ và pho tượng gỗ sơn son thiếp vàng; cùng các đồ thờ bằng đồng được lưu giữ trong di tích. Trong cung cấm, tượng ba vị Thánh Phụ, Thánh Mẫu và Thánh Tử được đặt trên bệ thờ xây giật cấp gồm 5 bậc, thể hiện vị trí tôn nghiêm của các nhân vật được thờ.

Các tư liệu văn khắc cũng có ý nghĩa đặc biệt. Đền hiện còn 8 đạo sắc phong thời Nguyễn, hai bia ký có niên đại năm 1895 và 1940, các cuốn thư, câu đối và thần tích ghi chép về thân thế, công trạng của ba vị Thành hoàng. Cuốn thư niên hiệu Khải Định thứ 7 (1922) cùng các câu đối không chỉ mang nội dung ca ngợi công đức của các vị được thờ mà còn góp phần phản ánh quan niệm thẩm mỹ, nghệ thuật trang trí và tín ngưỡng của người xưa.

Ngoài ra, di tích còn lưu giữ một nghê đá có niên đại thời Lê, được tài liệu khảo tả xác định thuộc thế kỷ XVIII. Hiện vật này cùng với các cấu kiện kiến trúc, mảng chạm khắc và đồ thờ cổ góp phần làm rõ giá trị của Đền Từ Hạ trong hệ thống di sản văn hóa của địa phương.

hai bia ký có niên đại năm 1895 và 1940

Không chỉ có giá trị về kiến trúc nghệ thuật, Đền Từ Hạ còn gắn liền với những sự kiện lịch sử quan trọng. Theo tài liệu di tích, trong kháng chiến chống thực dân Pháp, địa điểm này từng được sử dụng làm cơ sở hoạt động bí mật của Tỉnh ủy và Ủy ban kháng chiến tỉnh Hải Dương. Vị trí nằm xa khu dân cư, có đường sông bao bọc ba phía tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bí mật. Tại khu vực đền hiện vẫn còn dấu vết khu hầm bí mật thông ra bờ sông Bửa.

Trong đời sống cộng đồng, đền là nơi tổ chức các kỳ lễ hội truyền thống, nổi bật là lễ hội ngày 14 tháng Giêng âm lịch, gắn với ngày mất của Đức Thánh Phụ và Đức Thánh Tử. Các nghi thức rước kiệu, tế thần, cùng hoạt động văn nghệ, diễn chèo cổ và đánh cờ người góp phần duy trì phong tục, tập quán và tăng cường sự gắn kết trong cộng đồng dân cư.

Đền Từ Hạ được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào năm 2001

Với bố cục kiến trúc chữ Đinh, kết cấu gỗ truyền thống, hệ thống chạm khắc mang dấu ấn nghệ thuật thời Lê và thời Nguyễn, cùng nhiều cổ vật, tư liệu Hán Nôm có giá trị, Đền Từ Hạ là công trình kiến trúc cổ tiêu biểu trong không gian văn hóa địa phương. Những giá trị còn được lưu giữ không chỉ phản ánh tài nghệ của các nghệ nhân xưa mà còn góp phần làm sáng rõ lịch sử hình thành, phát triển của cộng đồng qua nhiều thế hệ.

Bảo tồn và phát huy giá trị Đền Từ Hạ vì vậy không chỉ là gìn giữ một công trình thờ tự cổ, mà còn là bảo vệ những dấu tích kiến trúc, nghệ thuật và lịch sử đã được trao truyền qua thời gian, góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa và giáo dục truyền thống cho các thế hệ hôm nay và mai sau./.

                                                                                                                             Lương Hà 

 

btv hadong
QR Code
                                                                                                                                                                             image advertisement
image advertisement

 

image advertisement
image advertisement
image advertisement
image advertisement
Tin mới
Thư viện ảnh
Thống kê truy cập
  • Đang online: 0
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 0
  • Tất cả: 0