Với bố cục kiến trúc chữ Công, hệ thống 8 mái cùng những bộ vì kèo gỗ truyền thống và các chi tiết đao mái uốn cong mềm mại, chùa Hiền (Trung Hoa Tự), xã Hà Đông, là công trình mang đậm dấu ấn kiến trúc nghệ thuật cổ. Trải qua gần 300 năm tồn tại và nhiều lần tu bổ, tôn tạo, ngôi chùa vẫn lưu giữ những đặc điểm kiến trúc có giá trị, đồng thời là không gian sinh hoạt tâm linh gắn bó với nhiều thế hệ người dân địa phương.

Tiền đường – Nổi bật với hệ thống mái và kết cấu gỗ truyền thống
Chùa Hiền tọa lạc tại thôn Hợp Đức xã Hà Đông, trên vùng đất xưa có tên Hiền Võng, thuộc tổng Lại Xá; sau là thôn Nhân Hiền, xã Hợp Đức, huyện Thanh Hà. Theo tư liệu ghi chép trên bia đá “Trung Hoa Bài Tự” hiện còn lưu giữ tại chùa và tài liệu tại Bảo tàng Hải Phòng, căn cứ việc tu tạo chùa của Tỳ khưu Tăng Thông Đức cùng kết cấu kiến trúc hiện còn, di tích được xác định xây dựng vào thời Hậu Lê, cuối thế kỷ XVIII.

Ống muống và hậu cung – Sự liên kết trong chỉnh thể kiến trúc
Điểm nổi bật của chùa Hiền trước hết nằm ở bố cục kiến trúc chữ Công, gồm tiền đường 5 gian, ống muống 3 gian và hậu cung 3 gian nối liền nhau, tạo thành một chỉnh thể kiến trúc thống nhất. Ba bộ phận có quy mô và chức năng riêng nhưng được liên kết chặt chẽ, vừa bảo đảm công năng thờ tự, vừa tạo nên sự liên hoàn trong không gian kiến trúc.

Bố cục chữ Công – Nền tảng của tổng thể kiến trúc
Mặt tiền chùa quay về hướng chính Tây, theo quan niệm của các tín đồ Phật tử là hướng “Tây phương cực lạc”, thể hiện niềm hướng vọng về cõi Phật. Trên tổng thể ấy, tiền đường giữ vai trò là bộ phận phía trước, tiếp nối với ống muống ở giữa và hậu cung ở phía sau. Cách tổ chức các hạng mục theo trục liên hoàn tạo nên đặc trưng của kiến trúc chữ Công tại di tích.
Trong tổng thể kiến trúc, tòa tiền đường là bộ phận nổi bật với quy mô 5 gian, dài 12,45 m, rộng 5,92 m. Công trình được làm bằng gỗ lim, xây gạch và lợp ngói mũi truyền thống. Hệ thống kết cấu gồm sáu bộ vì kèo liên kết với nhau theo kiểu “kèo tàu cánh báng”, kết hợp hệ thống giằng ngang với lối nối thép “Thượng tam hạ tứ”. Các cấu kiện sử dụng gỗ tứ thiết, thể hiện kỹ thuật dựng nhà truyền thống, đồng thời tạo nên sự vững chắc cho công trình.

Mái lợp ngói vẩy cá, các đao mái uốn cong mềm mại
Giá trị nghệ thuật của tòa tiền đường được thể hiện rõ qua hình thức mái và những chi tiết tạo tác. Mái lợp ngói vẩy cá, các đao mái uốn cong mềm mại; bốn đao góc được đắp theo lối đao guột. Bờ nóc, bờ chảy được ghép hoa thị, góp phần tạo dáng cho công trình. Đặc biệt, hệ thống mái gồm 8 mái, trong đó mái gian đầu và gian cuối quay theo hướng Đông – Tây, các mái còn lại quay theo hướng Nam – Bắc. Cách tổ chức hệ mái kết hợp với những đường cong ở các góc mái đã tạo nên diện mạo riêng cho ngôi chùa, thể hiện sự khéo léo của người thợ xưa trong việc kết hợp kết cấu và nghệ thuật tạo hình kiến trúc.

Từ quy mô năm gian, hệ thống vì kèo gỗ đến cách xử lý mái và các chi tiết trang trí, tiền đường cho thấy sự kết hợp giữa yêu cầu về độ bền vững của kết cấu với tính thẩm mỹ của kiến trúc truyền thống.
Nối tiếp tiền đường là tòa ống muống gồm 3 gian, dài 5,39 m, rộng 5,84 m. Bộ phận này có 4 bộ vì được kiến tạo theo kiểu “kèo cầu cánh báng”. Hệ thống vì kèo có kẻ liền bẩy, kết hợp hai hàng cột gỗ lim vững chắc, tạo thành hai lối đi ở hai bên thông xuống hậu cung.

Không chỉ đảm nhiệm vai trò kết nối các tòa nhà, ống muống còn góp phần duy trì sự liên hoàn của bố cục chữ Công. Cách bố trí các bộ vì, hàng cột và lối đi tạo nên sự chuyển tiếp giữa tiền đường với không gian thờ tự phía sau, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của toàn bộ công trình.

Tòa hậu cung gồm 3 gian, dài 7,97 m, rộng 5,12 m, nối với ống muống bằng hai xối góc
Tòa hậu cung gồm 3 gian, dài 7,97 m, rộng 5,12 m, nối với ống muống bằng hai xối góc. Kiến trúc cơ bản tương tự tiền đường nhưng được thu nhỏ theo quy mô ba gian. Sự tương đồng trong cách tạo dựng các bộ vì, kết hợp với mối liên kết giữa các tòa nhà, giúp toàn bộ công trình có kết cấu chặt chẽ, hạn chế tình trạng xô lệch.
Như vậy, từ tiền đường đến ống muống và hậu cung, mỗi bộ phận đều có đặc điểm riêng về quy mô, kết cấu nhưng cùng tạo nên một chỉnh thể kiến trúc thống nhất. Đây cũng là yếu tố làm nên dấu ấn của chùa Hiền trong nghệ thuật xây dựng chùa cổ.
Bên cạnh kiến trúc chính, cảnh quan và các công trình phụ trợ góp phần tạo nên diện mạo của di tích. Chùa nằm trên khu đất rộng hơn 3.000 m², ngoài khu chùa chính còn có nhà Tổ 5 gian quay hướng Tây, giếng chùa ở phía Đông Nam và đình thờ Thành hoàng làng phía sau chùa.

Cây đa cổ thụ được ước tính trên 100 năm tuổi
Trong khuôn viên có cây bàng, cây đa cổ thụ được ước tính trên 100 năm tuổi cùng vườn cây ăn quả, tạo nên không gian cổ kính, yên bình giữa làng quê. Sự hiện diện của các công trình và cây xanh lâu năm góp phần hình thành cảnh quan gắn bó với lịch sử tồn tại của di tích.
Giá trị kiến trúc, nghệ thuật của chùa Hiền còn được bổ sung bởi hệ thống di vật được lưu giữ tại đây. Hiện chùa còn quả chuông đồng có niên hiệu Bảo Đại thứ 12, năm 1937, cao 93 cm, đường kính miệng chuông 46,5 cm; một số bát hương bằng gốm, sứ thời Nguyễn; bia “Trung Hoa Bài Tự”, dựng vào mùa đông năm Kỷ Mão 1939; cùng một trụ Thiên Đài bằng đá thời Hậu Lê, cao 165 cm, rộng 35 cm, dày 36 cm.

Quả chuông đồng có niên hiệu Bảo Đại thứ 12
Trong đó, bia “Trung Hoa Bài Tự” ghi lại cảnh quan chùa, công đức của vị Tỳ khưu và nhà sư có công tu bổ chùa, đúc chuông, đồng thời lưu danh những người đã đóng góp xây dựng, tu tạo di tích. Trụ Thiên Đài bằng đá ghi nhớ công đức của Đức Phật và nhân dân đã góp công xây dựng, tu tạo chùa. Những hiện vật này là nguồn tư liệu quan trọng góp phần tìm hiểu lịch sử tồn tại, quá trình tu bổ và hoạt động tín ngưỡng của di tích.

Bia “Trung Hoa Bài Tự” ghi lại cảnh quan chùa, công đức của vị Tỳ khưu và nhà sư có công tu bổ chùa, đúc chuông, đồng thời lưu danh những người đã đóng góp xây dựng, tu tạo di tích
Trải qua thời gian, chùa Hiền đã được tu bổ, tôn tạo nhiều lần. Vào thời Nguyễn, công trình được sửa chữa; sau năm 1954, nhân dân địa phương tiếp tục công đức, tu bổ để duy trì hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Theo tư liệu, phần lớn kiến trúc của khu di tích còn tương đối nguyên vẹn, dù một số hiện vật đã thất lạc hoặc hư hỏng do tác động của thời gian và những biến động lịch sử.
Không chỉ có giá trị về kiến trúc, chùa Hiền còn là không gian sinh hoạt tâm linh gắn bó với nhiều thế hệ người dân địa phương. Chùa thờ Phật theo Thiền phái Đại thừa; hệ thống tượng thờ được bài trí thành nhiều lớp từ trong ra ngoài. Bên trái hồi tiền đường là ban thờ Mẫu, bên phải đặt tượng Đức Ông; Thượng điện có bốn lớp tượng thờ.

Chùa còn thờ các vị sư tổ từng trụ trì và viên tịch tại đây, trong đó có sư tổ Thích Công Đức và sư cụ Trịnh Văn Mịch. Việc thờ phụng các vị sư tổ thể hiện sự tri ân đối với những người đã gắn bó, đóng góp cho ngôi chùa và cộng đồng.
Hằng năm, nhà chùa và nhân dân địa phương duy trì các ngày lễ tiết, trong đó ngày 28 tháng 6 âm lịch là dịp giỗ Tổ, thu hút đông đảo người dân tham gia. Các hoạt động tín ngưỡng góp phần gìn giữ truyền thống, duy trì sự gắn bó giữa di tích với cộng đồng và làm phong phú đời sống tinh thần của nhân dân.

Năm 2006, chùa Hiền được UBND tỉnh Hải Dương công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Danh hiệu này ghi nhận giá trị của công trình với những đặc điểm kiến trúc truyền thống còn được lưu giữ, từ bố cục chữ Công, hệ thống mái, kết cấu gỗ đến các chi tiết tạo tác và di vật đi kèm.

Trụ Thiên Đài bằng đá ghi nhớ công đức của Đức Phật và nhân dân đã góp công xây dựng, tu tạo chùa
Với bố cục kiến trúc chữ Công, hệ thống 8 mái, những bộ vì kèo gỗ truyền thống cùng các chi tiết trang trí đặc trưng, chùa Hiền là dấu ấn của nghệ thuật xây dựng chùa cổ trên vùng đất Hà Đông. Giá trị của di tích không chỉ nằm ở hình thức kiến trúc và kỹ thuật dựng nhà truyền thống, mà còn ở sự gắn kết giữa không gian kiến trúc với hoạt động thờ tự, sinh hoạt tín ngưỡng của cộng đồng. Gìn giữ chùa Hiền vì vậy cũng là bảo tồn những dấu ấn kiến trúc nghệ thuật và giá trị văn hóa, tâm linh được các thế hệ người dân địa phương vun đắp./.
Lương Hà