Điều 6 Luật Trẻ em quy định các hành vi bị nghiêm cấm có liên quan đến xâm hại trẻ em bao gồm:
Tước đoạt quyền sống của trẻ em. Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em. Xâm hại tình dục, bạo lực, lạm dụng, bóc lột trẻ em.
Tổ chức, hỗ trợ, xúi giục, ép buộc trẻ em tảo hôn. Sử dụng, rủ rê, xúi giục, kích động, lợi dụng, lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc trẻ em thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác. Cản trở trẻ em thực hiện quyền và bổn phận của mình.
Không cung cấp hoặc che giấu, ngăn cản việc cung cấp thông tin về trẻ em bị xâm hại hoặc trẻ em có nguy cơ bị bóc lột, bị bạo lực cho gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền.
Kỳ thị, phân biệt đối xử với trẻ em vì đặc điểm cá nhân, hoàn cảnh gia đình, giới tính, dân tộc, quốc tịch, tín ngưỡng, tôn giáo của trẻ em.
Bán cho trẻ em hoặc cho trẻ em sử dụng rượu, bia, thuốc lá, chất gây nghiện, chất kích thích khác, thực phẩm không bảo đảm an toàn, có hại cho trẻ em.
Cung cấp dịch vụ Internet, sản xuất, phát tán, kinh doanh xuất bản phẩm, đồ chơi, trò chơi và các sản phẩm khác phục vụ trẻ em nhưng có nội dung ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh của trẻ em.
Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em.
Lợi dụng việc nhận chăm sóc thay thế trẻ em để xâm hại trẻ em; lợi dụng chế độ, chính sách của Nhà nước và sự hỗ trợ, giúp đỡ của tổ chức, cá nhân dành cho trẻ em để trục lợi.
Từ chối, không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ, không kịp thời việc hỗ trợ, can thiệp, điều trị đối với trẻ em có nguy cơ hoặc đang trong tình trạng nguy hiểm, bị tổn hại thân thể, danh dự, nhân phẩm.
Theo Điều 5 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng quy định các hành vi bị nghiêm cấm trong phòng, chống bạo lực gia đình (trong đó có trẻ em).
1. Trách nhiệm của các chủ thể trong phòng, chống xâm hại trẻ em:
- Phòng, chống xâm hại trẻ em là trách nhiệm của gia đình, cơ sở giáo dục, cơ quan, tổ chức, cộng đồng và mỗi cá nhân. Trong công tác truyền thông, cần nhấn mạnh vai trò, trách nhiệm của từng nhóm chủ thể như sau:
- Cha, mẹ, giáo viên, người chăm sóc trẻ em và các thành viên trong gia đình có trách nhiệm: Trau dồi kiến thức, kỹ năng giáo dục trẻ em về đạo đức, nhân cách, quyền và bổn phận của trẻ em; tạo môi trường an toàn, phòng ngừa nguy cơ xâm hại trẻ em; chấp hành các quyết định, biện pháp, quy định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền để bảo đảm sự an toàn, bảo vệ tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự và bí mật đời sống riêng tư của trẻ em; bảo đảm để trẻ em thực hiện được quyền bí mật đời sống riêng tư của mình, trừ trường hợp cần thiết để bảo vệ trẻ em và vì lợi ích tốt nhất của trẻ em. Phát hiện, tố giác, thông báo cho cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi xâm hại trẻ em, trường hợp trẻ em có nguy cơ bị xâm hại hoặc đang bị xâm hại trong và ngoài gia đình. Lựa chọn người bào chữa hoặc tự mình bào chữa cho trẻ em trong quá trình tố tụng theo quy định của pháp luật.
- Cơ sở giáo dục có trách nhiệm xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường; lồng ghép, tích hợp nội dung, kiến thức về bảo đảm môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện, phòng, chống bạo lực học đường vào kế hoạch giáo dục của cơ sở; phát hiện, thông tin, phối hợp xử lý khi có vụ việc hoặc nguy cơ xâm hại trẻ em; tổ chức thực hiện công tác tư vấn học đường, công tác xã hội trong trường học.
- Ủy ban nhân dân cấp xã và người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, đánh giá ban đầu mức độ nguy cơ và mức độ tổn hại của trẻ em; áp dụng hoặc đề xuất áp dụng biện pháp bảo vệ khẩn cấp; xây dựng, tổ chức thực hiện, rà soát và đánh giá kế hoạch hỗ trợ, can thiệp đối với trẻ em bị xâm hại hoặc có nguy cơ bị xâm hại.
- Cơ quan công an các cấp có trách nhiệm tiếp nhận thông tin, ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em; phối hợp bảo vệ trẻ em khẩn cấp; hỗ trợ can thiệp trong trường hợp cần thiết; tiếp nhận, giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm xâm hại trẻ em theo pháp luật tố tụng hình sự.
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có trách nhiệm khám bệnh, chữa bệnh cho trẻ em bị xâm hại; hướng dẫn việc thu thập bằng chứng, lưu giữ chứng cứ tổn hại của trẻ em; lưu trữ hồ sơ khám bệnh, chữa bệnh theo quy định.
- Tổ chức đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, cộng đồng dân cư, mạng lưới cộng tác viên có trách nhiệm phối hợp truyền thông, phát hiện, thông báo, hỗ trợ và tham gia giám sát việc thực hiện quyền trẻ em, bảo vệ trẻ em tại cộng đồng.
2. Tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em :
Tiếp nhận, xử lý thông tin, thông báo, tố giác hành vi xâm hại trẻ em được quy định trong Luật Trẻ em và Nghị định số 56/2017/NĐ-CP ngày 09/5/2017 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Trẻ em, cụ thể:
- Các cơ quan, tổ chức, cơ sở giáo dục, gia đình, cá nhân nếu phát hiện hoặc có thông tin về hành vi xâm hại trẻ em hoặc trẻ em có nguy cơ bị xâm hại có trách nhiệm thông báo ngay cho Tổng đài điện thoại quốc gia bảo vệ trẻ em (Tổng đài 111) hoặc cơ quan công an các cấp hoặc Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc.
- Sau khi tiếp nhận thông tin, Tổng đài 111 hoặc cơ quan chuyên môn hoặc cơ quan công an có trách nhiệm phối hợp xử lý và chuyển ngay thông tin đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc để thực hiện đánh giá nguy cơ ban đầu về mức độ tổn hại của trẻ em.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra vụ việc chỉ đạo người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã tiến hành đánh giá ban đầu mức độ nguy cơ, mức độ tổn hại của trẻ em để làm căn cứ áp dụng hoặc không áp dụng các biện pháp can thiệp khẩn cấp.
- Trường hợp trẻ em được xác định có nguy cơ hoặc đang bị tổn hại nghiêm trọng về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm thì trong vòng 12 giờ từ khi nhận thông tin, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải áp dụng biện pháp can thiệp khẩn cấp hoặc tạm thời cách ly trẻ em khỏi môi trường hoặc người gây tổn hại.
- Sau khi đánh giá ban đầu, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan xác định nhu cầu cần hỗ trợ, can thiệp; xây dựng kế hoạch hỗ trợ, can thiệp; tổ chức thực hiện; rà soát, đánh giá và đề xuất kết thúc hoặc tiếp tục kế hoạch hỗ trợ, can thiệp tùy theo mức độ an toàn và phục hồi của trẻ em.
3. Chế tài xử lý các hành vi xâm hại trẻ em:
Các hành vi xâm hại trẻ em, tùy theo tính chất, mức độ và hậu quả, có thể bị xử lý bằng chế tài hành chính, trách nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự.
Trong đó Bộ luật Hình sự, quy định nhiều tội danh liên quan trực tiếp đến xâm hại trẻ em. Người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu hành vi đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi thường là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt.
Một số tội danh thường gặp trong thực tiễn gồm:
- Tội giết người, trong đó có trường hợp giết người dưới 16 tuổi (Điều 123);
- Tội giết hoặc vứt bỏ con mới đẻ (Điều 124);
- Tội vô ý làm chết người (Điều 128);
- Tội đe dọa giết người (Điều 133);
- Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác,
trong đó có trường hợp phạm tội đối với người dưới 16 tuổi (Điều 134);
- Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 138);
- Tội hành hạ người khác (Điều 140);
- Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142);
- Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144);
- Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145);
- Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146);
- Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147);
- Tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151);
- Tội chiếm đoạt người dưới 16 tuổi (Điều 153);
- Tội làm nhục người khác (Điều 155);
- Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (Điều 157);
- Tội cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ (Điều 181);
- Tội tổ chức tảo hôn (Điều 183);
- Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng mình (Điều 185);
- Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng (Điều 186);
- Tội chứa mại dâm, môi giới mại dâm trong trường hợp liên quan đến người dưới 18 tuổi (Điều 327, Điều 328);
- Tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329);
- Tội vi phạm quy định về sử dụng người lao động dưới 16 tuổi (Điều 296);
- Tội cưỡng bức lao động (Điều 297).
Ngoài các tội danh nêu trên, tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi và độ tuổi của trẻ em bị xâm hại, người thực hiện hành vi xâm hại trẻ em còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội danh khác liên quan đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do thân thể, quyền tài sản, mua bán người, mại dâm, lao động cưỡng bức hoặc các hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em.
Đối với nhóm tội xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, việc áp dụng pháp luật còn được hướng dẫn bởi Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP ngày 01/10/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại các Điều 141,142,143,144,145,146,147 của Bộ luật Hình sự và việc xét xử vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi.
Trách nhiệm dân sự
Người có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015). Quy định này được áp dụng đối với các trường hợp trẻ em bị xâm hại khi phát sinh thiệt hại thực tế. Thiệt hại được bồi thường có thể bao gồm chi phí cứu chữa, điều trị, phục hồi sức khỏe; chi phí chăm sóc; thu nhập thực tế bị mất; thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm bị xâm phạm; và khoản bù đắp tổn thất về tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trong vụ án hình sự, trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giải quyết cùng với việc xét xử vụ án hình sự hoặc tách thành vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng./.
BTV tổng hợp